Cẩm nang phòng tránh đuối nước
Ký ức chiến tranh phần 1

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 16h:46' 18-04-2024
Dung lượng: 896.8 KB
Số lượt tải: 5
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 16h:46' 18-04-2024
Dung lượng: 896.8 KB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích:
0 người
Ký Sự Chiến Tranh Phần 1
Nhiều tác giả
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Table of Contents
DÒNG KÝ SỰ VIẾT VỀ CHIẾN TRANH
MỘT LẦN TỚI THỦ ĐÔ
TRẬN PHỐ RÀNG
TRÊN ĐUỜNG SỐ 4, 15 CÂY SỐ
GIỮA THẤT KHÊ - LŨNG PHẦY.
MỘT CUỘC CHUẨN BỊ
TRẬN THANH HƯƠNG
KÝ SỰ CAO LẠNG
KÝ SỰ MẶT TRẬN
NHỮNG NGƯỜI ĐANG CHIẾN ĐẤU
CHÚNG TÔI Ở CỒN CỎ
NGÔI SAO TRÊN ĐỈNH PHU VĂN LÂU
(1)
(2)
(3)
(4)
(5)
(6)
(7)
(8)
(9)
(10)
(11)
(12)
(13)
(14)
(15)
(16)
(17)
(18)
(19)
(20)
(21)
(22)
(23)
(24)
(25)
(26)
(27)
(28)
(29)
(30)
(31)
(32)
(33)
(34)
DÒNG KÝ SỰ VIẾT VỀ CHIẾN TRANH
Giai đoạn văn học 1945- 1975 có một ý nghĩa quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam
hiện đại. Đây là giai đoạn hình thành và phát triển của nền văn học mới, một nền văn học phục
vụ công cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong bối cảnh
chiến tranh và cách mạng, cùng với những loại hình văn học khác, ký đã tỏ rõ ưu thế và sức
mạnh của thể loại trong phản ánh hiện thực và con người thời đại. Thể ký thường nở rộ và
thịnh hành vào các thời kỳ văn học ứng với những thay đổi lớn lao, những bước ngoặt trọng
đại của đời sống dân tộc. Nếu yêu cầu nhà văn là người thư ký trung thành của thời đại và tác
phẩm là bức tranh chân thật về đời sống thì ký là thể loại giúp chủ thể sáng tạo hoàn thành sứ
mệnh của mình một cách thuận lợi nhất. Với đặc trưng thể loại là tính thời sự, năng động, ký có
khả năng ghi nhận và chuyển tải sự kiện đời sống và con người một cách nhậy bén và nóng hổi
nhất. Dòng ký chiến tranh đã xuất hiện và đã góp một tiếng nói đầy hiệu quả trong việc phản
ánh hiện thực lúc bấy giờ. Nhiều tác phẩm ký có giá trị lần lượt ra đời, góp phần tạo nên diện
mạo đa dạng của đời sống văn học. Đó là những sáng tác phản ánh kịp thời, nhiều mặt của hiện
thực đời sống bề bộn và phong phú, xứng đáng là đội quân xung kích của văn học nghệ thuật.
Trong đó, ký sự là một tiểu loại thuộc loại hình ký đã làm tròn chức năng nghệ thuật của mình
và đã gặt hái những thành tựu đáng ghi nhận.
Ký sự ghi chép và tái hiện một sự kiện, một câu chuyện tương đối hoàn chỉnh, đưa một
lượng thông tin nóng, cập nhật và giàu giá trí biểu cảm đến với người đọc. Từ những sự việc cụ
thể và sinh động toát lên chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Ký sự có quy mô tương ứng với truyện
ngắn, truyện vừa hoặc tiểu thuyết nhưng viết về người thật, việc thật mà tác giả là người trong
cuộc, trực tiếp chứng kiến hay được nghe kể lại, được nắm giữ tư liệu một cách tường tận, tỉ
mỷ về sự việc và con người ở một thời điểm, một không gian và địa danh cụ thể. Ký sự cũng
gần với truyện nhưng có quan điểm của thể loại: tôn trọng sự thật khách quan của đời sống.
Bởi vậy, người viết ký luôn có ý thức đẩy người và việc lên phía trước, đưa những xung đột tính
cách và hoàn cảnh lùi lại ở phía sau, đảm bảo tính xác thực của hiện thực đời sống được phản
ánh trong tác phẩm. Sự việc diễn biến theo trình tự thời gian làm nên tình huống và kết cấu
của thiên ký sự. Thực tế của đời sống cách mạng và kháng chiến của sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc đã tạo nhiều chất liệu cho ký sự phát triển.
Hàng loạt ký sự xuất hiện đã ghi lại khá đầy đủ diện mạo và tiến trình, các thời đoạn và sự
kiện chủ yếu của đời sống đất nước và con người Việt Nam trong ba mươi năm chiến tranh và
cách mạng. Những ký sự : Trong rừng Yên Thế, Trận Phố Ràng (Trần Đăng), Trận Thanh Hương
(Nguyễn Khắc Thứ), Ký sự Cao Lạng (Nguyễn Huy Tưởng) v.v... đã ghi chép rất chân thật những
diễn biến phức tạp, gay go của các trận đánh, các chiến dịch của quân và dân ta với kẻ thù
trong kháng chiến chống Pháp. Tiếp đến những ký sự Chúng tôi ở Cồn Cỏ (Hồ Phương) , Sóng
Hòn Mê (Hoàng Văn Bổn), Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu (Hoàng Phủ Ngọc Tường), Ký sự
miền đất lửa (Nguyễn Sinh - Vũ Kỳ Lân) , Tháng Ba ở Tây Nguyên (Nguyễn Khải), Bắc Hải Vân
xuân 1975 (Xuân Thiều) v.v... đã ghi lại một cách trung thực, đầy xúc động những diễn biến của
sự kiện vĩ đại vào bậc nhất trong lịch sử chống xâm lược của dân tộc, giành lại độc lập và thống
nhất đất nước của đồng bào và chiến sĩ cả nước trong kháng chiến chống Mỹ. Dòng ký sự ra đời
trong hoàn cảnh đặc biệt của đất nước kể trên, mang đậm cảm hứng lịch sử và dân tộc hoà
quyện với âm điệu hùng tráng, lãng mạn đã thực sự khẳng định vị trí của ký sự viết về chiến
tranh trong thời kỳ lịch sử đầy kỳ tích và bi tráng của dân tộc.
Loại hình ký bao gồm nhiều tiểu loại ký. Ở đây, chúng tôi mới chỉ đề cập tới một trong
những mũi nhọn của ký là thể ký sự. Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc tập ký sự
viết về chiến tranh, tuyển chọn những tác phẩm ký sự tiêu biểu của giai đoạn văn học chiến
tranh và cách mạng (1945 - 1975), như là một tập hợp bước đầu, chưa thật đầy đủ nhưng ở
một mức độ nhất định cũng đã mang ý nghĩa đại diện cho các sáng tác ký sự của giai đoạn này.
BÍCH THU
TRẦN ĐĂNG
MỘT LẦN TỚI THỦ ĐÔ
Trời vừa tối sầm lại thì bốn chiến sĩ xuống cầu vào tới trong thành phố. Trong gió rét căm
căm, dưới trời mù tối và xám lạnh, sương tỏa vào phố từ phía bờ sông, nên không nhìn rõ mặt
mũi của bốn bóng người, hàng một, thấp thoáng bước theo nhau. Nhưng chỉ nhìn thấy bộ quần
áo đen xám, mỏng tanh, chẽn vào lưng, thắt vào bắp chân mỗi người, khẩu súng lớn đeo bên
hông của người đi đầu, hình con dao quắm bên sườn một người đi sau, cũng đủ biết đấy là bốn
chiến sĩ mới từ chiến khu về.
Dân chúng Hà - thành từ hai, ba tháng nay đã quen thuộc với những hình dáng ấy. Và những
ngày chưa xa, chính những hình dáng ấy đã làm tất cả Hà Nội sôi nổi, hân hoan.
Nhưng hôm nay mới về thì hình như chiến sĩ đến chậm quá! Mà có bốn người thì ít quá!
Hình ảnh khêu gợi và quyến rũ của chiến sĩ đều trở nên tầm thường rồi.
Vả lại những trẻ bán báo, những bác hàng rong, nhưng anh thợ thuyền... nghĩa là tất cả
những người còn thích xem chiến sĩ nhất, sau một ngày vất vả làm ăn trong thành phố đã tản
mát cả ra những ngoại ô, ngoài bãi, trở về nhà, hoặc đã chúi vào mấy xó cửa ngay trong phố
tránh cái rét, càng về chiều càng buốt căm căm.
Nhưng mặc dầu, chỉ biết rằng chiều hôm nay, không có ai đi đón chiến sĩ mà cũng chẳng ai
đi theo xem. Nhớ lại có ngày chân cầu, thành cầu đầy người bám, và phố ở dưới chân cầu,
người xếp hàng hai bên dài tăm tắp.
Nhưng mà thực ra, chiến sĩ thản nhiên, im lặng bước, đi hàng một - lối đi rừng - người đi
sau giẫm lên dấu chân của người đi trước, không hề chú ý gì tới chung quanh.
Cho tới đầu phố Hàng Ngang thì đèn thành phố bật sáng. Và cùng với đèn thành phố, một
cảnh tượng tưng bừng cũng sáng bật lên. Lối đèn phòng thủ lù mù vừa bị bỏ đi. Nhiều cửa hiệu
im lìm suốt mấy năm chiến tranh đã sáng rực hẳn lên. Những tủ kính hắt ra hè phố từng mảng
ánh sáng vuông vắn - ánh sáng rực rỡ, ấm cúng lạ thường, trong không khí lạnh dưới trời
không trăng, sao. Và lòng người như phấn khởi hẳn lên. Không ai bảo ai, tất cả mọi người đua
nhau ra đường. Mỗi lúc một đông thêm, từ các ngả đường, người và xe dần dần như nêm như
cối náo nhiệt đổ mãi vào những phố Hàng Ngang, Hàng Đào, mạch máu của Hà Nội.
Thực là đằng đẵng mấy năm trời sau bao nhiêu biến cố hãi hùng và mong đợi, cảnh phồn
thịnh, lộng lẫy sáng sủa như vậy mới trở lại. Nhưng trở lại hơi vội quá chăng?
Nhiều thứ hàng thuộc về loại xa xỉ phẩm tưởng không bao giờ còn trông thấy nữa, hay còn
dùng làm gì được nữa, đã lại từ lúc nào hiện về, nằm im trong lần kính, quý giá và êm đềm như
giấc ngủ của nàng công chúa trong truyện thần tiên.
Hà Nội vội vàng sống lại đêm nay những đêm nào của một thời qua để xứng với tên kinh
thành hoa lệ và người của Hà Nội chiều nay cũng thực là những người của đất văn vật nghìn
năm.
Rất nhiều kiều dân và võ quan ngoại quốc trong bộ đồ len ấm áp, sang trọng tỏa ra những
hương thơm ngào ngạt của nước hoa. Những chiếc áo khoác trắng như tuyết trên vai những
thiếu nữ Việt Nam, hay những thiếu phụ mới từ miền Bắc xuống đây, thấp thoáng trong những
chiếc xe hơi kiểu lạ, bóng loáng, xịch máy, từ từ đi trong phố. Mặc dầu tất cả những sự đã xảy
ra, một võ quan Nhật Bản vẫn lẫm liệt ngồi trong một chiếc xe hơi buông mui với gươm và
găng tay trắng, rẽ qua một cổng chào có hình thanh thiên bạch nhật và hàng chữ hoan hô Đồng
minh.
Thủ đô Việt Nam được tô điểm bằng bao nhiêu màu sắc quốc tế. Đời sống Việt Nam cũng
phản chiếu được ngay cái ánh sáng phù hoa ấy. Phòng trà ở góc phố, bàng bạc một ánh sáng
đều nhạt, dịu dàng. Những thanh niên tuấn tú ngồi bên những màu áo thêu hoa. Những tiếng
đàn rên rỉ ở những cung trầm. Xa chút nữa, cánh cửa của một tiệm nhảy hé mở để một võ quan
ngoại quốc cao lớn lách vào cùng với một tà áo đỏ để thoáng lộ ra những cặp thướt tha cũng
như chợt thoáng bay ra ngoài tiếng đàn lả lướt.
Tiếng đàn lả lướt vẳng đưa trên trời và trong đêm Hà Nội. Nhưng ham muốn mạnh mẽ và
hồi hộp nặng sa vào trong lòng mấy chàng thanh niên bước vội trên vỉa hè. Nước hồ Gươm
rung làn ánh sáng như giục giã. Chút sương mờ trước mắt như đợi chờ.
"Ái tình trong giờ phút này đã phấn khởi hẳn lên trong mắt những ai ai".
Nhưng trong ánh sáng ấy, giữa những luồng sinh khí ấy, bốn chiến sĩ vẫn thản nhiên bước
theo hàng một - lối đi rừng - người đi sau giẫm lên dấu chân người đi trước. Nét mặt họ lúc này
đã trông rõ được : bốn khuôn mặt to, đen sạm, hiền hậu vô cùng, nhưng yên lặng và thản nhiên
vô cùng. Những đôi mắt ấy không sáng lên một chút nào trước những ánh sáng rực rỡ kia.
Những đôi mắt chỉ nhìn thẳng để bước đều lên. Tiếng hát của một hộp vô tuyến điện có làm
cho người đi đầu nhìn ngang một chút, nhưng mà vẫn như không nghe thấy. Vì tiếng hát đã hát
rằng :
Buồn nhớ khóm trúc ngày xưa
Buồn trông tình xưa còn đó
Người xưa còn nhớ ta chăng?
Hay đã quên rồi ?
Thực vậy, mắt mở mà không trông, tai lắng mà không nghe, bốn chiến sĩ đều bước theo
người đi đầu dẫn đường. Không có một chút tình ý gì, không có một dây liên lạc nào giữa
những người ấy, giữa những cảnh tượng ấy. Kỷ niệm âm u và xa vắng của rừng núi không tan
biến trước ánh sáng của kinh thành.
Bốn chiến sĩ cứ tiến dần mãi ra ngoại ô. Họ tìm tới một trường quân chính. Đấy là mục đích
của họ lần này về Thủ đô. Họ đến chậm rồi, nên có vẻ vội vã lắm.
Sáng mai, ở bãi cỏ nhà trường, họ sẽ chào lá cờ đỏ sao vàng. Những ngày ở lại đây, họ còn
được xem nữa cái ánh sáng của kinh thành. Nhưng xem mà vẫn không hề lưu luyến. Không bao
giờ hai bên sẽ hiểu nhau. Một ngày mai, trở về núi rừng, hay xông pha nơi khói lửa, có lẽ kỷ
niệm của họ ở Thủ đô chỉ là một lá cờ mỗi sáng kéo lên trên bãi cỏ ướt của nhà trường. Còn
những cảnh khác vô tình họ đã nhìn thấy thì lại sẽ vô tình lần lần phai mờ mà mất hẳn đi...
Và đấy là một kỷ niệm ấm áp độc nhất của một thành phố đầy ánh sáng và len dạ.
Tháng 1 năm 1946
TRẬN PHỐ RÀNG
(24, 25-6- 1949)
Xung kích, X... người vừa cán bộ, đội viên, công binh phối hợp, cây cối ngụy trang đầy người,
súng, mác, dao tông, ngồi hai hàng dọc hai bên lối đi dốc thoai thoải trong rừng nứa, đợi đến
phút cuối cùng mới ra đường.
Đại đội trưởng xung kích P.N. luôn luôn nhìn đồng hồ trên cổ tay. Còn 55 phút. Trung đội
trưởng Hoa dắt thêm cả một cây nứa vào thắt lưng. Trung đội phó Khải mân mê cái bao mo
cau còn bọc kín lưỡi mác. Đồng chí Sắc xỏ chân vào đôi giày đinh, chỉ dùng những khi vượt
chông, còn cả đời vác; tiểu đội phó Chiến trẻ nhất đại đội ngắm mãi một cái lá tre cầm trong
tay như chưa được trông thấy bao giờ. Không ai cười nói to; mỗi cử động đều thận trọng, tuy ở
đây chưa phải tuyệt đối bí mật. Vừa có tiếng súng nổ phía Ngòi Mác và người ở ngoài ấy về nói
có lẽ nó thấy trinh sát chạy qua đường.
Còn 53 phút. Vẫn không một người xung kích nào để lộ ra mặt một nét lo lắng, băn khoăn gì
cả. Cũng không có một cái mặt nào sắt lạnh, đầy sát khí. Tất cả thản nhiên, lầm lì như không.
Vài anh không biết thú cái gì nhìn nhau, bịt mồm cười. Nhiều anh nghiêng đầu lắng tai nghe
tiếng con quạ kêu buồn, rời rạc mé đồn địch còn lấp sau quả núi, và mấy rừng cây yên tĩnh. Cái
giờ sống chết càng tới gần, những nét đăm chiêu, cau có và vui nhộn nữa của những ngày
chuẩn bị càng biến đi hết.
Còn 52 phút.
Bắt đầu tiến! - Đại đội trưởng P.N. chụp cái mũ sắt Đức lên đầu, thắt lại thanh kiếm lệnh khẽ
hô rất nhanh giữa hai hàng đội viên đã đứng cả dậy.
Hàng một, xung kích lẳng lặng đi từng bước ra khỏi rừng. Cửa rừng trông ra một bãi ruộng
cỏ hoang, đằng sau ngọn núi của tiểu đoàn bộ, ban chỉ huy cũng ngồi hai hàng, điểm một lần
cuối, từng người xung kích đi qua. Anh tiểu đoàn trưởng điềm đạm, nhìn từng mặt, hơi mỉm
cười, chiếc roi ngựa uốn cong trong tay. Những mặt nào đây, một lát nữa sẽ được vinh dự ở
trong cái tỷ số những người sẽ hy sinh, anh đã dự tính?
Còn 45 phút. Xung kích đã đi khỏi. Chưa một bộ phận nào bị lộ. Bao nhiêu con mắt, dưới
bóng cây trùm sáng lên nhìn nhau khoái trá, hồi hộp. Cố một tí nữa cho tới đúng giờ khai hỏa là
trận đánh đã thắng một nửa.
Còn 44 phút rưỡi.
Anh tiểu đoàn trưởng đang nói một câu gì với liên lạc bỗng dừng hẳn lại. Moóc-chi-ê địch
bắn ra. Tiếng nổ thứ hai vừa dứt, chưa biết sự thể ra làm sao mà đại bác lại bắn sớm thế, nhưng
không ai bảo ai, cả ông chỉ huy phó mặt trận, cả anh tiểu đoàn trưởng, chính trị viên đều vùng
dậy chạy lên núi rào rào, theo sau đến một trung đội các sĩ quan tham mưu, bí thư, điện thoại,
liên lạc viên, nhiếp ảnh, nhà báo. Súng đã ầm ầm loạn xạ trên khắp mặt trận; chưa nghe ra súng
gì của ta hay của địch, bắn như thế nào. Một khẩu Bờ-ren nào ở đồi bên cạnh, vừa cựa mình, xổ
ra một băng dài. Đỉnh đồi chỉ huy, mọi người vừa thở đứt ruột vừa tản ra các gốc cây, ngồi lên
các miệng hố công sự, tìm chỗ nhìn xuống. Một người lên tiếng hùng hổ đắc thắng: "Cháy hết
cả rồi, chết hết cả rồi nhớ!". Một người khác bình tĩnh tuyên bố. "Thế là xong, tất cả 15 phút!".
Những dịp cười, những tiếng rú!
Anh tiểu đoàn trưởng chưa nói, chưa tỏ một thái độ gì cả, trèo thoắt lên một ngọn cây cao.
Quan sát chưa kịp đặt mà cây mọc từ chân núi lên, che gần kín vị trí chỉ huy.
Đồn địch dưới thấp còn cách xa gần 400 thước đang nổ cháy thật, tre nứa nổ lốp bốp như cả
cái thung lũng đang nổ cháy. Khối lửa dày đặc không động đậy bên dưới, mà bốc ngọn mỗi lúc
một cao, ngùn ngụt gió tạt về phía đồi chỉ huy vàng rực, chói lòe trong nắng mới nóng bốc lên
tận những đỉnh núi bố trí. Đại bác vẫn ùng... oàng dõng dạc, không thương tiếc.
Xung kích, chưa trông rõ đồn địch, cứ phía đại bác nổ, từng người, từng tổ nhảy ào xống
đường chạy thật lực. Con đường cái Lục-an-châu - Phố Ràng qua Khe Pìa, Ngòi Mác dọc theo bờ
sông Chảy, chiều hôm nay khô ráo, quang đãng và ánh nắng dịu trong trẻo lạ thường. Phởn
quá, ba bốn anh vừa chạy, vừa reo hò động viên nhau ầm ỹ.
- Tiến lên! Chúng nó chết hết rồi!
- Ô hay! Sao lại vứt thang lại thế này!
- Kìa, tổ trên nó bỏ! Lính năm nào thế?
Một chiếc cầu mục nằm nghiêng rất khả nghi trên một con suối nước đục lờ lờ, chảy ra
sông.
- Mìn đấy, khéo có mìn!
- Đi xuống suối, xuống suối!
Suối ngập đến bụng. Bờ suối cao quá đầu, đẩy đít nhau mà lên. Rồi cứ người nọ theo người
kia, giẫm bừa lên những cỏ lau rậm rạp cao đến ngực và gai góc, dây dợ, giằng quần áo, da thịt
ra mà chạy. Thế là thành một lối cỏ dập xuống, sâm sấp nước bùn.
- Cúi xuống! Đồn đấy!
Nhưng đồn còn cách chừng 200 thước mới hiện ra một khoảng; khoảng dãy nhà ngựa dốc
xuống mặt sông, lửa làm sao đã tắt hết rồi, một hàng cọc đen thui : như một dãy lều chợ tầm
thường vẫn hay bị Tây đốt.
Đại bác tưởng đã ngừng lại nổ một phát dữ đội rung động cả đất dưới chân. Một mảnh ôbuy rú trên đầu bay đi xa tít. Xung kích đã nằm rạp xuống đất vừa ngóc đầu lên thì khẩu 75 ly
bồi luôn một phát. Đồn địch sụp đổ rầm rầm như núi lở. Chắc một thằng nào đã chót bóp cò
trước khi ngã nên một phát súng trường nổ xuống sông, tung tóe nước. Nhưng đại bác chưa
kịp bắn nữa, thì đồn địch ộc ra một tràng đui xết bình bịch trên mặt đường. Lá cây gió rào rào,
gió phần phật trên đầu xung kích.
- Cúi thấp xuống! - Khải vừa hô vừa dẫn xung kích tạt vào bên trái đường, lại đè nát tất cả
những cỏ lau, bụi rậm mà tiến, tránh con đường ở thẳng ngay dưới tầm súng địch. Xung kích
dàn hàng ngang, trong một rãnh nước cạn, sau mấy cây gỗ mục cách đồn 100 thước. Bước tiến
ào ạt, địch đã tỉnh lại. Những tia lửa loe lóe dưới nóc lô cốt số 1. Từng luồng khói theo nhau
phụt xuống chân hàng rào. Lửa chỉ còn âm ỉ trên đồn địch. Ống bơ một dãy dài tắp, lấp lánh
trắng, trên mũi ngọn tre hàng rào tua tủa. Những mái nhà còn chen chúc, nhô trên dãy tường
trình, có một hàng lỗ châu mai đen ngòm cách từng khoảng đều đặn. Những đống gạch, tre gỗ
nhấp nhô như mấy cái lò gạch hoang đều nhau.
Ban chỉ huy đã chuyển vị trí lên sau một gốc gạo lớn, cách hàng xung kích mười thước.
Chuế, liên lạc trung đội, lách bụi xuống. Cách đây 15 phút, quần áo anh còn nguyên lành. Lúc
này, một cái vai anh đã hở ra, hai ống quần sắp đi đứt cả. Cứ đà này, một chốc nữa, anh sẽ
không còn quần mặc.
Trung đội báo cáo : "Địch bắn rát từ lô cốt số 1 và đống đá. Bãi phẳng quá, không có địa
hình, địa vật. Ba-dô-ca năm viên thối bốn. Xác đồng chí Xá còn để trên ấy!".
Kèn sừng trâu trên núi rúc xung phong một lần nữa : te-te-te-te.
Đại đội trưởng P.N. gạt mấy giọt mồ hôi trên trán, tuy trời không nóng, quay lại anh chính
trị viên :
- Trung 1 đang đi xuống sông tìm đường. Đấy, nó bắn! Cứ nhô lên là nó bắn! Này, chết cậu
Xá rồi!
Liên lạc vẫn chạy như cờ lông công, mang lệnh dồn dập của tiểu đoàn : báo cáo địch tình,
tìm đường tiến, quyết tâm, đại bác sắp bắn thêm.
Một phút chờ đại bác bắn, anh chính trị viên cẩn thận hỏi lại anh đại đội trưởng.
ly".
- Xá hay Xắc?
- Xá.
Anh chính trị viên ngừng một tí rồi như nói một mình : "Ừ, cậu Xá hay ngâm bài Khúc lưu
Rồi cả hai im lặng, vô tình đều cúi đầu. Cái chết đầu tiên của trận đánh nghiêm trọng và cảm
động.
Nhưng cả hai đã bật đứng dậy như hai cái lò xo. Đại bác vừa nổ ùng một tiếng rồi bẵng hẳn
đi mấy tích tắc. Rồi khói đen đặc, đất bụi bốc tung lên ở một góc đồn địch cùng với một tiếng
nổ oàng. Moóc-chi-ê pình... pình gióng đôi. Phóng bom dựng từng cột khói đen sì, cao ngất lên
giữa đồn. La- mi tạt... tạt tai lác như tát lấy tát để vào mặt Tây. Các thứ súng phối hợp, các tiếng
nổ lẫn lộn, vang dội lan xa như sấm rền, bạt ngàn xẻ núi...
Vẫn chưa nghe tiếng xung phong! Trời nhá nhem tối lúc nào không biết. Đại bác bắn thưa
thớt dần, rồi thôi. Một mình khẩu đui xết tiếc rẻ cục... cục thêm mấy phát, không một chút hào
hứng.
- Yêu cầu đại bác bắn trúng hòn đá và lô cốt số 1.
- Yêu cầu đại bác...
Trời sập tối mất rồi. Tiếng gào truyền khẩu đến đứt hơi qua từng chặng liên lạc 50 thước
lên tiểu đoàn.
Nhưng trời đã tối hẳn. Một đêm không trăng, không sao bắt đầu bưng lấy mắt, những lối đi
lại, liên lạc trong cỏ lau, bụi rậm bực dọc vô cùng.
Một cuộc hội ý cấp tốc giữa đại đội trưởng và các trung đội trưởng xung kích, dưới gốc gạo
chung quanh một bó những ống nứa đựng ét xăng vừa đem lên thơm sực có đuôi mắc vào hàng
rào, mái nhà, như những quả pháo chạy chuột. Anh đại đội trưởng vừa nói lại im, mọi người
lắng nghe những tiếng đào huỳnh huỵch trên đồn mỗi lúc càng nặng càng vội, tưởng như tiếng
tim đập của chính mình. Chúng nó tranh thủ thời gian, chúng nó cố thủ. Lệnh của tiểu đoàn là
tìm hết cách nổ mìn, đốt rào đột nhập ban đêm.
Đại đội trưởng lên với xung kích.
Trung 4 bên trái, trung 1 bên phải tiến sát chân rào, nấp dưới những tảng đá, mấp mô mấy
từng cao. Tối quá không thấy trung đội bạn, Khải, trung đội phó trung 4, hét sang bên phải :
"Tinh thần xung phong của trung đội 1 đâu!". Địch, một đội viên trung 1, nghe rõ, nắm lấy tay
anh trung đội phó của mình, từ biệt : "Tôi đi đây, tôi đi xung phong đây", rồi chạy vụt lên.
Rồi bất thần, đùng đùng một chuỗi mìn nổ. Một tia lửa ba-dô-ca xanh lè lè, chạy nhằng
nhằng vào hàng rào. Một tiếng hô, những tiếng thét, kêu thất thanh, xé trời, hỗn loạn trong
đêm, không nghe ra câu gì, không nghe ra tiếng người nữa. Những bóng đen tới tấp, xô nhau
nhảy vọt lên, chụm vào rồi giãn ra. Một, hai, ba, bốn băng liên thanh nổ dài đến kiệt cùng. Một
câu thì thầm của anh đại đội trưởng tan loãng trong gió :
- Súng máy đặt đây! Đặt đây!
Những quả moóc-chi-ê nổ rầm; rồi im bặt tất cả. Tối ngòm trở lại, mơ hồ như còn văng
vẳng trên trời tiếng thét. Nhưng chiến trường thực đã lặng hẳn đi rồi. Mười phút tơi bời đã qua
như một cái chớp lửa. Chỉ còn một mình đồng chí Địch, trung 1, nằm chết bên trong rào. Anh
quay ra gọi người vượt thang sau anh : "Phố! Phố!". Không thấy trả lời. Một tiếng thân người bị
kéo sền sệt trên mặt đất xa dần. Lộp cộp lách cách ba con ngựa lù lù mon men lại gần, cúi
xuống hít ngửi anh đội viên. Ba bóng giặc mập mờ nhô ra khỏi một bức tường. "Ệch!" quả lựu
đạn ở trong tay Địch vung ra không nổ. Giặc biến mất. Địch nằm chết năm phút, mười phút
nữa, rồi vội vã trèo trở ra. Một cái thang vẫn còn mắc lên rào.
Gió thổi lộng, lành lạnh. Cây lá xào xào. Mưa lộp bộp những hạt nặng.
Gốc cây gạo, anh đại đội trưởng đã trở về ngồi, thở dốc. Cả chính trị viên, đại đội phó.
Không ai nỡ nói lên một câu gì cả, cùng nghe mưa rơi. Những giọt mưa dập nốt những ngọn lửa
còn cháy leo lét trên hàng rào đồn địch. Cái đồn vẫn cao lù xù, đen sì giữa trời.
Bộ đội đã nằm lăn lóc, sau cái gốc cây, rúc vào các bụi rậm. Những tiếng ngáy đều đều. Một
trung đội tập hợp, nhẫn nại, bước đi tẻ ngắt theo lệnh tiểu đoàn vòng lên núi, để qua sân tàu
bay, đi tìm một hướng khác tấn công. Nhưng ánh trăng gần sáng đã lờ mờ. Một tiếng gà rừng
gáy bên kia sông.
Anh tiểu đoàn trưởng đã thức suốt một đêm, bên một chiếc máy điện thoại, dưới chân núi
chỉ huy, từ từ đi trở lên vị trí. Bước chân của anh đã mỏi, chậm chạp lên dốc. Miệng anh mím
chặt. Mắt mở không chớp, không nhìn ai, không nhìn một cái gì. Hai má lõm. Da mặt đen sạm
càng sắt lại. Trên đôi mắt lạnh như còn vương những hình ảnh lửa cháy, người chạy liên lạc
như máy, đứng dừng lại thẳng người báo cáo Duỗi chân trong hố công sự, anh khẽ nhắm mắt.
Liên lạc, trinh sát... Chung quanh ngồi im thin thít cả.
Năm giờ sáng. Quan sát trên một ngọn cây nheo nhéo :
- Báo cáo, sương đang tan dần.
- Báo cáo, nhìn rõ được đồn rồi!
Anh tiểu đoàn trưởng đã quỳ xuống trong hố công sự. Từng thớ thịt của anh rung lên dưới
lần áo. Nhưng giọng vẫn dịu :
- Điện thoại! Pháo binh xong chưa? Kèn đâu?
Tiếng kèn tắc tị trong cổ họng anh thông hiệu. Anh tiểu đoàn trưởng giằng lấy kèn, lấy hết
hơi thổi rúc :
- Te... te... te... te.
Tiếng reo trên khắp các ngọn núi. Lô cốt số 1 vừa phi ra một đám khói trắng. Cái mái lật
ngửa bụng.
- Thấy xung kích chưa? Tiểu đoàn trưởng thét. Vẫn chỉ có sương tan trắng xóa xuống quanh
đồn.
- Đây rồi, lố nhố kia rồi!
Một anh run rẩy : "Này, rụng này... rụng!".
Nhưng không. Một người thứ hai, thứ ba vượt thang, vụt qua như mọc cánh. Cổng đồn tung
ra. Trung 4 ùa vào. Một cái lưng cởi trần trắng hếu, như từ dưới mặt đất hiện lên sau một mỏm
đá, vùng chạy. Hậu lăn xả vào chân khẩu moóc-chi-ê giữa sân. Khải xông vào lô cốt số 1. Một
thằng cởi trần nữa chết ngồi, dựa lưng vào tường như ngồi ghế bành, nhe răng cười, một chân
xích liền vào khẩu đui xết. Nhà số 9, vải bạt, quần áo cháy dở còn treo dưới mái, rủ xuống đầu
một tổ cúi lom khom chui vào. Tắc... bọp, viên đạn sướt qua mang tai hai người, nóng gáy.
Loáng một cái, địch đã rút ra sau nhà số 5, cái nhà to nhất ở chỗ cao nhất giữa đồn, đã cháy hết
chỉ còn cái nền và bốn bức tường gạch. Một dãy các bì muối xếp bên ngoài tường như một cái
chướng ngại vật. Hai bên nách nhà số 5, những cái núi đồ hộp, những đống gạch, tre gỗ, gióng
sắt... nhấp nhô phức tạp thành mấy từng chiến lũy, ngăn giữa ta và địch. Một tổ bò lên nền nhà
số 5. Vừa vặn một cái mặt Tây đen và một cái mặt khố đỏ răng vàng nhô lên sau bức tường.
Cùng trong tiếng nổ lựu đạn, tiếng hai thằng đổ rầm sau tường.
- Nhìn lên mà tránh! Trung đội phó Khải hô liền sau một tiếng "oách" và một băng si-ten
tắc tắc trên đầu. Mấy chục con người nằm rạp xuống, đè lên tất cả các đống than củi còn nóng,
các vũng máu, các đống giẻ rách, ống bơ, mảnh đạn, mảnh bom, phân ngựa... và ngóc đầu lên
nhìn. Mờ mờ một luồng khói nhạt quay tít, bốc vọt lên trời, rồi bổ nhào xuống, càng xuống
càng bị hút nhanh xuống đất như gió, tiếng rít như xé lụa. Bụi đất đỏ bốc mùi phủ kín mọi
người. Tiếng rên hừ hừ nổi lên dưới đất. Đồng chí Lư xông ra khỏi đám khói bụi, khẩu đui xết
trên vai, chạy như bay xuống đường. Khải thét : “Tiến sát cả vào!”, và nhặt khẩu súng dưới đất
lắp một quả A.T. tì súng vào vai đứng bắn. Một tiếng "pách" mé bên kia đồn trả lời. Khải vứt
súng xuống đất bên cạnh đống A.T. lùi xuống một hốc đá. Các đội viên tán loạn. Những anh
nhanh nhất trườn lên như rắn, đè cả lên bốn năm cái xác bạn còn nóng. Ba bốn người vần
quanh một tảng đá, mệt lả. Một đội viên đứng lên bờ tường hô : “Yêu cầu cho tiếp... vi...ệ... n...!” .
Một quả moóc-chi-ê rơi ngay xuống đầu, Khải lồng lên vơ lấy súng, lấy A.T. Người anh thành
một cái máy không biết mệt, không biết sợ, đứng lên, nằm xuống theo cái nhịp dồn dập của
moóc-chi-ê địch, bắn 87 độ như vậy, cứ nửa phút một quả. Khói bụi, đất đỏ chưa tan hết đám
này, lại bốc lên một đám khác, mù mịt, tối tăm mặt mũi. Ba bốn anh trên nền nhà số 5, bên
trong tầm nã của moóc-chi-ê, không sợ nguy hiểm nữa, nằm ỳ. Một tiếng đồng hồ, rồi hai tiếng
đồng hồ, moóc-chi-ê địch không một phút nào ngừng. Xung kích không ai còn nghe thấy tiếng
nó nổ nữa, mà vẫn biết nó bắn. Dịch sang trái, né sang phải, quẩn quanh những tảng đá. Tránh,
nấp, tiến, lùi đã ăn khớp, bình tĩnh, không tốn sức quá nữa, không bị hy sinh thêm một người
nào. Trung đội phó Khải, một mình vừa bắn xong phát A.T. thứ năm mươi bảy. Một trung đội
tiếp viện vừa vào đồn; ba người không biết hướng nào mà tránh kịp.
Trung đội trưởng Hoa rút ra khỏi đồn, xuống báo cáo, theo sau năm, bảy đội viên, người bị
thương, người mệt lả, ngồi phệt xuống quanh anh đại đội trưởng. Trung đội trưởng Hoa đứng
nghiêm báo cáo. Nhưng giọng anh run và mỗi lời anh nói lại làm anh xúc động thêm. Chỉ một
phút nữa là anh đứng nghiêm mà khóc trước mặt đại đội trưởng.
Rồi đến lượt trung đội phó Khải cũng xuống nốt. Lưỡi anh, và hai vai áo anh vàng khè thuốc
súng. Theo sau Khải lại một số đội viên nữa tới ngồi đông thêm bên anh đại đội trưởng, súng
đạn vứt một bên, thắt lưng lựu đạn cởi cả ra mà thở. Một vài cái băng trắng vừa buộc lên mấy
cái đầu nhỏ máu ròng ròng xuống cổ.
Dân quân tải thương, áo chàm khăn Tày vố lũ lượt khiêng cáng chạy lên hớt hải, ào ào, gãy
cây gãy cối như cuộc săn lợn rừng.
Rồi những chiếc cáng đỏ lòm chở về. Những tiếng rên khẽ, những nét mặt ngửa lên trời
nhăn nhó của người thương binh không muốn kêu. Đồng chí Thạo, không súng, không đạn,
nằm im trên cáng, một ống chân gãy rời ra để bên cạnh.
Địch không bị dồn nữa, bắn cầm chừng ra cổng đồn.
Ba giờ trận nội chiến đã qua.
Tiếng tàu bay xa xa trong mây mù. Địch bắn vội lên trời mấy loạt súng. Máy bay không
nghe, lảng xa.
Trên núi, trợ chiến vẫn đang ngồi không yên với khẩu moóc-chi-ê. Hàng trăm con mắt vẫn
thôi miên xuống những đống gạch, đá, tre, gỗ nhấp nhô, hàng rào ống bơ lấp lánh, không một
bóng giặc, một tăm hơi súng ống gì cả, im phăng phắc.
- Đấy đấy, nó ở cái đống bụi chuối đấy thì phải? Cục cục... cục Tằng... tằng...
- Khói kia như khói nó thổi cơm ấy anh ạ?
- Bố nó cũng không thổi cơm được bây giờ?
Khẩu la-mi ở đồi pháo binh bên kia sông vẫn rình một cái chấm đen đụng đậy, một cái đầu
giặc mấy lần định thò ra, mò một cái đồ hộp, bên phải nhà số 5. Tạt... tạt... tạt... Cái chấm đen
thụt vào.
- A ha! Chúng mày đừng có hòng ra mà mò ăn, mò uống gì cả!
Để cho chúng nó tuyệt vọng hơn, từng tổ bám sát trận địa đã chiếm không cho nó tỏa ra, lại
đã đốt tất cả những cái gì nó có thể đốt được chung quanh địch. Lửa lại đỏ rực bừng bừng.
Trong khi đó, từ gốc cây gạo của đại đội trưởng P.N tới chân ngọn núi của Ban chỉ huy chiến
trường đã biến thành ra một cái thứ sân trường học lúc giờ chơi. Cách đồn trăm thước, quây
quần chung quanh đại đội trưởng, xung kích ngồi nằm la liệt trên cỏ, trên những đống bao tải,
vải bạt rách, hòm gỗ vỡ, giấy má thư từ của ngụy binh, ống bơ, đồ hộp cháy chưa thu dọn, bên
cạnh súng ống, dây lưng ngổn ngang, chuyện rào rào như một cái chợ con. Chuyện trước còn
sôi nổi đánh nhau, đêm qua, sáng nay, Tây, khố đỏ, rồi chuyện chuyển sang bộ răng đen của
đồng chí Hội, cái bụng hắc lào của đồng chí Ninh. Một bọn bàn cãi gay go về cái vấn đề chưa
được giải quyết trong đại đội : châu chấu cào cào thì con nào bằng đầu con nào nhọn đầu.
Cứ độ nửa giờ, quan sát viên cũng đứng ngay cạnh đấy lại hô : "Moóc-chi-ê!" Nhưng nó cũng
lại vẫn bắn ra cổng đồn thôi. Chắc lại có anh đá phải ống bơ, đồ hộp gì ở trên ấy. Mọi người vẫn
nằm, ngồi quay lưng vào đồn địch, dựa trên các mô đất. Một anh vùng đứng dậy, chỉ cái đám
bụi khói đỏ lơ lửng, đang tan dần trên đồn dọa.
- Bắt được thằng bắn moóc-chi-ê thì phải đem ra tùng xẻo !... Rồi lại ngồi xuống. Nhưng
trong bụi bên cạnh, hai ba anh vẫn châu đầu với nhau, chia sẻ miếng súc cù là.
Chưa ai đến lúc có công việc gì cả. Những câu chuyện ồn ào, theo với sự mỏi mệt, hạ thấp
giọng, rì rầm tâm sự, tay đôi, tay ba, mấy anh trung đội trưởng, hai ba y tá, từng tốp nhỏ đội
viên liên lạc.
- Nay, mình ấy à, cái hồi mình ở P.T...
- Đánh cái trận này thế mà cũng gay đấy nhỉ...
- Bây giờ tôi bảo cứ đứng cả lên, cả trên núi nữa vỗ tay đều một lượt, địch cũng hốt lắm đấy
nhớ.
Đồng chí Hội bỗng vươn vai đứng dậy ngáp và gọi một đồng chí ở trung đội 1:
- Này, ra tớ bảo!
Hai người kéo nhau ra chỗ đường cái vắng thì thầm. Đồng chí ở trung đội 1 gật gật rồi nói to
: "Ờ, để tớ lấy quả lựu đạn đã nhớ, lựu Mỹ vừa tước được.". Một phút sau, hai người hàng dọc
tiến lên đồn, men hàng rào, rồi biến mất vào trong. Rồi một lúc, sắt tây ống bơ loảng xoảng và
một quả moóc-chi-ê nổ xuống giữa đồn. Khói chưa tan, đã thấy đồng chí Hội, đồng chí trung 1
theo nhau chạy thốc xuống đường, mỗi người kéo sền sệt dưới đất một con dê kêu be... bê...
rầm làng nước...
Gần 4 giờ chiều, đại đội phó N. thảo luận xong ở trên t...
Nhiều tác giả
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Table of Contents
DÒNG KÝ SỰ VIẾT VỀ CHIẾN TRANH
MỘT LẦN TỚI THỦ ĐÔ
TRẬN PHỐ RÀNG
TRÊN ĐUỜNG SỐ 4, 15 CÂY SỐ
GIỮA THẤT KHÊ - LŨNG PHẦY.
MỘT CUỘC CHUẨN BỊ
TRẬN THANH HƯƠNG
KÝ SỰ CAO LẠNG
KÝ SỰ MẶT TRẬN
NHỮNG NGƯỜI ĐANG CHIẾN ĐẤU
CHÚNG TÔI Ở CỒN CỎ
NGÔI SAO TRÊN ĐỈNH PHU VĂN LÂU
(1)
(2)
(3)
(4)
(5)
(6)
(7)
(8)
(9)
(10)
(11)
(12)
(13)
(14)
(15)
(16)
(17)
(18)
(19)
(20)
(21)
(22)
(23)
(24)
(25)
(26)
(27)
(28)
(29)
(30)
(31)
(32)
(33)
(34)
DÒNG KÝ SỰ VIẾT VỀ CHIẾN TRANH
Giai đoạn văn học 1945- 1975 có một ý nghĩa quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam
hiện đại. Đây là giai đoạn hình thành và phát triển của nền văn học mới, một nền văn học phục
vụ công cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong bối cảnh
chiến tranh và cách mạng, cùng với những loại hình văn học khác, ký đã tỏ rõ ưu thế và sức
mạnh của thể loại trong phản ánh hiện thực và con người thời đại. Thể ký thường nở rộ và
thịnh hành vào các thời kỳ văn học ứng với những thay đổi lớn lao, những bước ngoặt trọng
đại của đời sống dân tộc. Nếu yêu cầu nhà văn là người thư ký trung thành của thời đại và tác
phẩm là bức tranh chân thật về đời sống thì ký là thể loại giúp chủ thể sáng tạo hoàn thành sứ
mệnh của mình một cách thuận lợi nhất. Với đặc trưng thể loại là tính thời sự, năng động, ký có
khả năng ghi nhận và chuyển tải sự kiện đời sống và con người một cách nhậy bén và nóng hổi
nhất. Dòng ký chiến tranh đã xuất hiện và đã góp một tiếng nói đầy hiệu quả trong việc phản
ánh hiện thực lúc bấy giờ. Nhiều tác phẩm ký có giá trị lần lượt ra đời, góp phần tạo nên diện
mạo đa dạng của đời sống văn học. Đó là những sáng tác phản ánh kịp thời, nhiều mặt của hiện
thực đời sống bề bộn và phong phú, xứng đáng là đội quân xung kích của văn học nghệ thuật.
Trong đó, ký sự là một tiểu loại thuộc loại hình ký đã làm tròn chức năng nghệ thuật của mình
và đã gặt hái những thành tựu đáng ghi nhận.
Ký sự ghi chép và tái hiện một sự kiện, một câu chuyện tương đối hoàn chỉnh, đưa một
lượng thông tin nóng, cập nhật và giàu giá trí biểu cảm đến với người đọc. Từ những sự việc cụ
thể và sinh động toát lên chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Ký sự có quy mô tương ứng với truyện
ngắn, truyện vừa hoặc tiểu thuyết nhưng viết về người thật, việc thật mà tác giả là người trong
cuộc, trực tiếp chứng kiến hay được nghe kể lại, được nắm giữ tư liệu một cách tường tận, tỉ
mỷ về sự việc và con người ở một thời điểm, một không gian và địa danh cụ thể. Ký sự cũng
gần với truyện nhưng có quan điểm của thể loại: tôn trọng sự thật khách quan của đời sống.
Bởi vậy, người viết ký luôn có ý thức đẩy người và việc lên phía trước, đưa những xung đột tính
cách và hoàn cảnh lùi lại ở phía sau, đảm bảo tính xác thực của hiện thực đời sống được phản
ánh trong tác phẩm. Sự việc diễn biến theo trình tự thời gian làm nên tình huống và kết cấu
của thiên ký sự. Thực tế của đời sống cách mạng và kháng chiến của sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc đã tạo nhiều chất liệu cho ký sự phát triển.
Hàng loạt ký sự xuất hiện đã ghi lại khá đầy đủ diện mạo và tiến trình, các thời đoạn và sự
kiện chủ yếu của đời sống đất nước và con người Việt Nam trong ba mươi năm chiến tranh và
cách mạng. Những ký sự : Trong rừng Yên Thế, Trận Phố Ràng (Trần Đăng), Trận Thanh Hương
(Nguyễn Khắc Thứ), Ký sự Cao Lạng (Nguyễn Huy Tưởng) v.v... đã ghi chép rất chân thật những
diễn biến phức tạp, gay go của các trận đánh, các chiến dịch của quân và dân ta với kẻ thù
trong kháng chiến chống Pháp. Tiếp đến những ký sự Chúng tôi ở Cồn Cỏ (Hồ Phương) , Sóng
Hòn Mê (Hoàng Văn Bổn), Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu (Hoàng Phủ Ngọc Tường), Ký sự
miền đất lửa (Nguyễn Sinh - Vũ Kỳ Lân) , Tháng Ba ở Tây Nguyên (Nguyễn Khải), Bắc Hải Vân
xuân 1975 (Xuân Thiều) v.v... đã ghi lại một cách trung thực, đầy xúc động những diễn biến của
sự kiện vĩ đại vào bậc nhất trong lịch sử chống xâm lược của dân tộc, giành lại độc lập và thống
nhất đất nước của đồng bào và chiến sĩ cả nước trong kháng chiến chống Mỹ. Dòng ký sự ra đời
trong hoàn cảnh đặc biệt của đất nước kể trên, mang đậm cảm hứng lịch sử và dân tộc hoà
quyện với âm điệu hùng tráng, lãng mạn đã thực sự khẳng định vị trí của ký sự viết về chiến
tranh trong thời kỳ lịch sử đầy kỳ tích và bi tráng của dân tộc.
Loại hình ký bao gồm nhiều tiểu loại ký. Ở đây, chúng tôi mới chỉ đề cập tới một trong
những mũi nhọn của ký là thể ký sự. Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc tập ký sự
viết về chiến tranh, tuyển chọn những tác phẩm ký sự tiêu biểu của giai đoạn văn học chiến
tranh và cách mạng (1945 - 1975), như là một tập hợp bước đầu, chưa thật đầy đủ nhưng ở
một mức độ nhất định cũng đã mang ý nghĩa đại diện cho các sáng tác ký sự của giai đoạn này.
BÍCH THU
TRẦN ĐĂNG
MỘT LẦN TỚI THỦ ĐÔ
Trời vừa tối sầm lại thì bốn chiến sĩ xuống cầu vào tới trong thành phố. Trong gió rét căm
căm, dưới trời mù tối và xám lạnh, sương tỏa vào phố từ phía bờ sông, nên không nhìn rõ mặt
mũi của bốn bóng người, hàng một, thấp thoáng bước theo nhau. Nhưng chỉ nhìn thấy bộ quần
áo đen xám, mỏng tanh, chẽn vào lưng, thắt vào bắp chân mỗi người, khẩu súng lớn đeo bên
hông của người đi đầu, hình con dao quắm bên sườn một người đi sau, cũng đủ biết đấy là bốn
chiến sĩ mới từ chiến khu về.
Dân chúng Hà - thành từ hai, ba tháng nay đã quen thuộc với những hình dáng ấy. Và những
ngày chưa xa, chính những hình dáng ấy đã làm tất cả Hà Nội sôi nổi, hân hoan.
Nhưng hôm nay mới về thì hình như chiến sĩ đến chậm quá! Mà có bốn người thì ít quá!
Hình ảnh khêu gợi và quyến rũ của chiến sĩ đều trở nên tầm thường rồi.
Vả lại những trẻ bán báo, những bác hàng rong, nhưng anh thợ thuyền... nghĩa là tất cả
những người còn thích xem chiến sĩ nhất, sau một ngày vất vả làm ăn trong thành phố đã tản
mát cả ra những ngoại ô, ngoài bãi, trở về nhà, hoặc đã chúi vào mấy xó cửa ngay trong phố
tránh cái rét, càng về chiều càng buốt căm căm.
Nhưng mặc dầu, chỉ biết rằng chiều hôm nay, không có ai đi đón chiến sĩ mà cũng chẳng ai
đi theo xem. Nhớ lại có ngày chân cầu, thành cầu đầy người bám, và phố ở dưới chân cầu,
người xếp hàng hai bên dài tăm tắp.
Nhưng mà thực ra, chiến sĩ thản nhiên, im lặng bước, đi hàng một - lối đi rừng - người đi
sau giẫm lên dấu chân của người đi trước, không hề chú ý gì tới chung quanh.
Cho tới đầu phố Hàng Ngang thì đèn thành phố bật sáng. Và cùng với đèn thành phố, một
cảnh tượng tưng bừng cũng sáng bật lên. Lối đèn phòng thủ lù mù vừa bị bỏ đi. Nhiều cửa hiệu
im lìm suốt mấy năm chiến tranh đã sáng rực hẳn lên. Những tủ kính hắt ra hè phố từng mảng
ánh sáng vuông vắn - ánh sáng rực rỡ, ấm cúng lạ thường, trong không khí lạnh dưới trời
không trăng, sao. Và lòng người như phấn khởi hẳn lên. Không ai bảo ai, tất cả mọi người đua
nhau ra đường. Mỗi lúc một đông thêm, từ các ngả đường, người và xe dần dần như nêm như
cối náo nhiệt đổ mãi vào những phố Hàng Ngang, Hàng Đào, mạch máu của Hà Nội.
Thực là đằng đẵng mấy năm trời sau bao nhiêu biến cố hãi hùng và mong đợi, cảnh phồn
thịnh, lộng lẫy sáng sủa như vậy mới trở lại. Nhưng trở lại hơi vội quá chăng?
Nhiều thứ hàng thuộc về loại xa xỉ phẩm tưởng không bao giờ còn trông thấy nữa, hay còn
dùng làm gì được nữa, đã lại từ lúc nào hiện về, nằm im trong lần kính, quý giá và êm đềm như
giấc ngủ của nàng công chúa trong truyện thần tiên.
Hà Nội vội vàng sống lại đêm nay những đêm nào của một thời qua để xứng với tên kinh
thành hoa lệ và người của Hà Nội chiều nay cũng thực là những người của đất văn vật nghìn
năm.
Rất nhiều kiều dân và võ quan ngoại quốc trong bộ đồ len ấm áp, sang trọng tỏa ra những
hương thơm ngào ngạt của nước hoa. Những chiếc áo khoác trắng như tuyết trên vai những
thiếu nữ Việt Nam, hay những thiếu phụ mới từ miền Bắc xuống đây, thấp thoáng trong những
chiếc xe hơi kiểu lạ, bóng loáng, xịch máy, từ từ đi trong phố. Mặc dầu tất cả những sự đã xảy
ra, một võ quan Nhật Bản vẫn lẫm liệt ngồi trong một chiếc xe hơi buông mui với gươm và
găng tay trắng, rẽ qua một cổng chào có hình thanh thiên bạch nhật và hàng chữ hoan hô Đồng
minh.
Thủ đô Việt Nam được tô điểm bằng bao nhiêu màu sắc quốc tế. Đời sống Việt Nam cũng
phản chiếu được ngay cái ánh sáng phù hoa ấy. Phòng trà ở góc phố, bàng bạc một ánh sáng
đều nhạt, dịu dàng. Những thanh niên tuấn tú ngồi bên những màu áo thêu hoa. Những tiếng
đàn rên rỉ ở những cung trầm. Xa chút nữa, cánh cửa của một tiệm nhảy hé mở để một võ quan
ngoại quốc cao lớn lách vào cùng với một tà áo đỏ để thoáng lộ ra những cặp thướt tha cũng
như chợt thoáng bay ra ngoài tiếng đàn lả lướt.
Tiếng đàn lả lướt vẳng đưa trên trời và trong đêm Hà Nội. Nhưng ham muốn mạnh mẽ và
hồi hộp nặng sa vào trong lòng mấy chàng thanh niên bước vội trên vỉa hè. Nước hồ Gươm
rung làn ánh sáng như giục giã. Chút sương mờ trước mắt như đợi chờ.
"Ái tình trong giờ phút này đã phấn khởi hẳn lên trong mắt những ai ai".
Nhưng trong ánh sáng ấy, giữa những luồng sinh khí ấy, bốn chiến sĩ vẫn thản nhiên bước
theo hàng một - lối đi rừng - người đi sau giẫm lên dấu chân người đi trước. Nét mặt họ lúc này
đã trông rõ được : bốn khuôn mặt to, đen sạm, hiền hậu vô cùng, nhưng yên lặng và thản nhiên
vô cùng. Những đôi mắt ấy không sáng lên một chút nào trước những ánh sáng rực rỡ kia.
Những đôi mắt chỉ nhìn thẳng để bước đều lên. Tiếng hát của một hộp vô tuyến điện có làm
cho người đi đầu nhìn ngang một chút, nhưng mà vẫn như không nghe thấy. Vì tiếng hát đã hát
rằng :
Buồn nhớ khóm trúc ngày xưa
Buồn trông tình xưa còn đó
Người xưa còn nhớ ta chăng?
Hay đã quên rồi ?
Thực vậy, mắt mở mà không trông, tai lắng mà không nghe, bốn chiến sĩ đều bước theo
người đi đầu dẫn đường. Không có một chút tình ý gì, không có một dây liên lạc nào giữa
những người ấy, giữa những cảnh tượng ấy. Kỷ niệm âm u và xa vắng của rừng núi không tan
biến trước ánh sáng của kinh thành.
Bốn chiến sĩ cứ tiến dần mãi ra ngoại ô. Họ tìm tới một trường quân chính. Đấy là mục đích
của họ lần này về Thủ đô. Họ đến chậm rồi, nên có vẻ vội vã lắm.
Sáng mai, ở bãi cỏ nhà trường, họ sẽ chào lá cờ đỏ sao vàng. Những ngày ở lại đây, họ còn
được xem nữa cái ánh sáng của kinh thành. Nhưng xem mà vẫn không hề lưu luyến. Không bao
giờ hai bên sẽ hiểu nhau. Một ngày mai, trở về núi rừng, hay xông pha nơi khói lửa, có lẽ kỷ
niệm của họ ở Thủ đô chỉ là một lá cờ mỗi sáng kéo lên trên bãi cỏ ướt của nhà trường. Còn
những cảnh khác vô tình họ đã nhìn thấy thì lại sẽ vô tình lần lần phai mờ mà mất hẳn đi...
Và đấy là một kỷ niệm ấm áp độc nhất của một thành phố đầy ánh sáng và len dạ.
Tháng 1 năm 1946
TRẬN PHỐ RÀNG
(24, 25-6- 1949)
Xung kích, X... người vừa cán bộ, đội viên, công binh phối hợp, cây cối ngụy trang đầy người,
súng, mác, dao tông, ngồi hai hàng dọc hai bên lối đi dốc thoai thoải trong rừng nứa, đợi đến
phút cuối cùng mới ra đường.
Đại đội trưởng xung kích P.N. luôn luôn nhìn đồng hồ trên cổ tay. Còn 55 phút. Trung đội
trưởng Hoa dắt thêm cả một cây nứa vào thắt lưng. Trung đội phó Khải mân mê cái bao mo
cau còn bọc kín lưỡi mác. Đồng chí Sắc xỏ chân vào đôi giày đinh, chỉ dùng những khi vượt
chông, còn cả đời vác; tiểu đội phó Chiến trẻ nhất đại đội ngắm mãi một cái lá tre cầm trong
tay như chưa được trông thấy bao giờ. Không ai cười nói to; mỗi cử động đều thận trọng, tuy ở
đây chưa phải tuyệt đối bí mật. Vừa có tiếng súng nổ phía Ngòi Mác và người ở ngoài ấy về nói
có lẽ nó thấy trinh sát chạy qua đường.
Còn 53 phút. Vẫn không một người xung kích nào để lộ ra mặt một nét lo lắng, băn khoăn gì
cả. Cũng không có một cái mặt nào sắt lạnh, đầy sát khí. Tất cả thản nhiên, lầm lì như không.
Vài anh không biết thú cái gì nhìn nhau, bịt mồm cười. Nhiều anh nghiêng đầu lắng tai nghe
tiếng con quạ kêu buồn, rời rạc mé đồn địch còn lấp sau quả núi, và mấy rừng cây yên tĩnh. Cái
giờ sống chết càng tới gần, những nét đăm chiêu, cau có và vui nhộn nữa của những ngày
chuẩn bị càng biến đi hết.
Còn 52 phút.
Bắt đầu tiến! - Đại đội trưởng P.N. chụp cái mũ sắt Đức lên đầu, thắt lại thanh kiếm lệnh khẽ
hô rất nhanh giữa hai hàng đội viên đã đứng cả dậy.
Hàng một, xung kích lẳng lặng đi từng bước ra khỏi rừng. Cửa rừng trông ra một bãi ruộng
cỏ hoang, đằng sau ngọn núi của tiểu đoàn bộ, ban chỉ huy cũng ngồi hai hàng, điểm một lần
cuối, từng người xung kích đi qua. Anh tiểu đoàn trưởng điềm đạm, nhìn từng mặt, hơi mỉm
cười, chiếc roi ngựa uốn cong trong tay. Những mặt nào đây, một lát nữa sẽ được vinh dự ở
trong cái tỷ số những người sẽ hy sinh, anh đã dự tính?
Còn 45 phút. Xung kích đã đi khỏi. Chưa một bộ phận nào bị lộ. Bao nhiêu con mắt, dưới
bóng cây trùm sáng lên nhìn nhau khoái trá, hồi hộp. Cố một tí nữa cho tới đúng giờ khai hỏa là
trận đánh đã thắng một nửa.
Còn 44 phút rưỡi.
Anh tiểu đoàn trưởng đang nói một câu gì với liên lạc bỗng dừng hẳn lại. Moóc-chi-ê địch
bắn ra. Tiếng nổ thứ hai vừa dứt, chưa biết sự thể ra làm sao mà đại bác lại bắn sớm thế, nhưng
không ai bảo ai, cả ông chỉ huy phó mặt trận, cả anh tiểu đoàn trưởng, chính trị viên đều vùng
dậy chạy lên núi rào rào, theo sau đến một trung đội các sĩ quan tham mưu, bí thư, điện thoại,
liên lạc viên, nhiếp ảnh, nhà báo. Súng đã ầm ầm loạn xạ trên khắp mặt trận; chưa nghe ra súng
gì của ta hay của địch, bắn như thế nào. Một khẩu Bờ-ren nào ở đồi bên cạnh, vừa cựa mình, xổ
ra một băng dài. Đỉnh đồi chỉ huy, mọi người vừa thở đứt ruột vừa tản ra các gốc cây, ngồi lên
các miệng hố công sự, tìm chỗ nhìn xuống. Một người lên tiếng hùng hổ đắc thắng: "Cháy hết
cả rồi, chết hết cả rồi nhớ!". Một người khác bình tĩnh tuyên bố. "Thế là xong, tất cả 15 phút!".
Những dịp cười, những tiếng rú!
Anh tiểu đoàn trưởng chưa nói, chưa tỏ một thái độ gì cả, trèo thoắt lên một ngọn cây cao.
Quan sát chưa kịp đặt mà cây mọc từ chân núi lên, che gần kín vị trí chỉ huy.
Đồn địch dưới thấp còn cách xa gần 400 thước đang nổ cháy thật, tre nứa nổ lốp bốp như cả
cái thung lũng đang nổ cháy. Khối lửa dày đặc không động đậy bên dưới, mà bốc ngọn mỗi lúc
một cao, ngùn ngụt gió tạt về phía đồi chỉ huy vàng rực, chói lòe trong nắng mới nóng bốc lên
tận những đỉnh núi bố trí. Đại bác vẫn ùng... oàng dõng dạc, không thương tiếc.
Xung kích, chưa trông rõ đồn địch, cứ phía đại bác nổ, từng người, từng tổ nhảy ào xống
đường chạy thật lực. Con đường cái Lục-an-châu - Phố Ràng qua Khe Pìa, Ngòi Mác dọc theo bờ
sông Chảy, chiều hôm nay khô ráo, quang đãng và ánh nắng dịu trong trẻo lạ thường. Phởn
quá, ba bốn anh vừa chạy, vừa reo hò động viên nhau ầm ỹ.
- Tiến lên! Chúng nó chết hết rồi!
- Ô hay! Sao lại vứt thang lại thế này!
- Kìa, tổ trên nó bỏ! Lính năm nào thế?
Một chiếc cầu mục nằm nghiêng rất khả nghi trên một con suối nước đục lờ lờ, chảy ra
sông.
- Mìn đấy, khéo có mìn!
- Đi xuống suối, xuống suối!
Suối ngập đến bụng. Bờ suối cao quá đầu, đẩy đít nhau mà lên. Rồi cứ người nọ theo người
kia, giẫm bừa lên những cỏ lau rậm rạp cao đến ngực và gai góc, dây dợ, giằng quần áo, da thịt
ra mà chạy. Thế là thành một lối cỏ dập xuống, sâm sấp nước bùn.
- Cúi xuống! Đồn đấy!
Nhưng đồn còn cách chừng 200 thước mới hiện ra một khoảng; khoảng dãy nhà ngựa dốc
xuống mặt sông, lửa làm sao đã tắt hết rồi, một hàng cọc đen thui : như một dãy lều chợ tầm
thường vẫn hay bị Tây đốt.
Đại bác tưởng đã ngừng lại nổ một phát dữ đội rung động cả đất dưới chân. Một mảnh ôbuy rú trên đầu bay đi xa tít. Xung kích đã nằm rạp xuống đất vừa ngóc đầu lên thì khẩu 75 ly
bồi luôn một phát. Đồn địch sụp đổ rầm rầm như núi lở. Chắc một thằng nào đã chót bóp cò
trước khi ngã nên một phát súng trường nổ xuống sông, tung tóe nước. Nhưng đại bác chưa
kịp bắn nữa, thì đồn địch ộc ra một tràng đui xết bình bịch trên mặt đường. Lá cây gió rào rào,
gió phần phật trên đầu xung kích.
- Cúi thấp xuống! - Khải vừa hô vừa dẫn xung kích tạt vào bên trái đường, lại đè nát tất cả
những cỏ lau, bụi rậm mà tiến, tránh con đường ở thẳng ngay dưới tầm súng địch. Xung kích
dàn hàng ngang, trong một rãnh nước cạn, sau mấy cây gỗ mục cách đồn 100 thước. Bước tiến
ào ạt, địch đã tỉnh lại. Những tia lửa loe lóe dưới nóc lô cốt số 1. Từng luồng khói theo nhau
phụt xuống chân hàng rào. Lửa chỉ còn âm ỉ trên đồn địch. Ống bơ một dãy dài tắp, lấp lánh
trắng, trên mũi ngọn tre hàng rào tua tủa. Những mái nhà còn chen chúc, nhô trên dãy tường
trình, có một hàng lỗ châu mai đen ngòm cách từng khoảng đều đặn. Những đống gạch, tre gỗ
nhấp nhô như mấy cái lò gạch hoang đều nhau.
Ban chỉ huy đã chuyển vị trí lên sau một gốc gạo lớn, cách hàng xung kích mười thước.
Chuế, liên lạc trung đội, lách bụi xuống. Cách đây 15 phút, quần áo anh còn nguyên lành. Lúc
này, một cái vai anh đã hở ra, hai ống quần sắp đi đứt cả. Cứ đà này, một chốc nữa, anh sẽ
không còn quần mặc.
Trung đội báo cáo : "Địch bắn rát từ lô cốt số 1 và đống đá. Bãi phẳng quá, không có địa
hình, địa vật. Ba-dô-ca năm viên thối bốn. Xác đồng chí Xá còn để trên ấy!".
Kèn sừng trâu trên núi rúc xung phong một lần nữa : te-te-te-te.
Đại đội trưởng P.N. gạt mấy giọt mồ hôi trên trán, tuy trời không nóng, quay lại anh chính
trị viên :
- Trung 1 đang đi xuống sông tìm đường. Đấy, nó bắn! Cứ nhô lên là nó bắn! Này, chết cậu
Xá rồi!
Liên lạc vẫn chạy như cờ lông công, mang lệnh dồn dập của tiểu đoàn : báo cáo địch tình,
tìm đường tiến, quyết tâm, đại bác sắp bắn thêm.
Một phút chờ đại bác bắn, anh chính trị viên cẩn thận hỏi lại anh đại đội trưởng.
ly".
- Xá hay Xắc?
- Xá.
Anh chính trị viên ngừng một tí rồi như nói một mình : "Ừ, cậu Xá hay ngâm bài Khúc lưu
Rồi cả hai im lặng, vô tình đều cúi đầu. Cái chết đầu tiên của trận đánh nghiêm trọng và cảm
động.
Nhưng cả hai đã bật đứng dậy như hai cái lò xo. Đại bác vừa nổ ùng một tiếng rồi bẵng hẳn
đi mấy tích tắc. Rồi khói đen đặc, đất bụi bốc tung lên ở một góc đồn địch cùng với một tiếng
nổ oàng. Moóc-chi-ê pình... pình gióng đôi. Phóng bom dựng từng cột khói đen sì, cao ngất lên
giữa đồn. La- mi tạt... tạt tai lác như tát lấy tát để vào mặt Tây. Các thứ súng phối hợp, các tiếng
nổ lẫn lộn, vang dội lan xa như sấm rền, bạt ngàn xẻ núi...
Vẫn chưa nghe tiếng xung phong! Trời nhá nhem tối lúc nào không biết. Đại bác bắn thưa
thớt dần, rồi thôi. Một mình khẩu đui xết tiếc rẻ cục... cục thêm mấy phát, không một chút hào
hứng.
- Yêu cầu đại bác bắn trúng hòn đá và lô cốt số 1.
- Yêu cầu đại bác...
Trời sập tối mất rồi. Tiếng gào truyền khẩu đến đứt hơi qua từng chặng liên lạc 50 thước
lên tiểu đoàn.
Nhưng trời đã tối hẳn. Một đêm không trăng, không sao bắt đầu bưng lấy mắt, những lối đi
lại, liên lạc trong cỏ lau, bụi rậm bực dọc vô cùng.
Một cuộc hội ý cấp tốc giữa đại đội trưởng và các trung đội trưởng xung kích, dưới gốc gạo
chung quanh một bó những ống nứa đựng ét xăng vừa đem lên thơm sực có đuôi mắc vào hàng
rào, mái nhà, như những quả pháo chạy chuột. Anh đại đội trưởng vừa nói lại im, mọi người
lắng nghe những tiếng đào huỳnh huỵch trên đồn mỗi lúc càng nặng càng vội, tưởng như tiếng
tim đập của chính mình. Chúng nó tranh thủ thời gian, chúng nó cố thủ. Lệnh của tiểu đoàn là
tìm hết cách nổ mìn, đốt rào đột nhập ban đêm.
Đại đội trưởng lên với xung kích.
Trung 4 bên trái, trung 1 bên phải tiến sát chân rào, nấp dưới những tảng đá, mấp mô mấy
từng cao. Tối quá không thấy trung đội bạn, Khải, trung đội phó trung 4, hét sang bên phải :
"Tinh thần xung phong của trung đội 1 đâu!". Địch, một đội viên trung 1, nghe rõ, nắm lấy tay
anh trung đội phó của mình, từ biệt : "Tôi đi đây, tôi đi xung phong đây", rồi chạy vụt lên.
Rồi bất thần, đùng đùng một chuỗi mìn nổ. Một tia lửa ba-dô-ca xanh lè lè, chạy nhằng
nhằng vào hàng rào. Một tiếng hô, những tiếng thét, kêu thất thanh, xé trời, hỗn loạn trong
đêm, không nghe ra câu gì, không nghe ra tiếng người nữa. Những bóng đen tới tấp, xô nhau
nhảy vọt lên, chụm vào rồi giãn ra. Một, hai, ba, bốn băng liên thanh nổ dài đến kiệt cùng. Một
câu thì thầm của anh đại đội trưởng tan loãng trong gió :
- Súng máy đặt đây! Đặt đây!
Những quả moóc-chi-ê nổ rầm; rồi im bặt tất cả. Tối ngòm trở lại, mơ hồ như còn văng
vẳng trên trời tiếng thét. Nhưng chiến trường thực đã lặng hẳn đi rồi. Mười phút tơi bời đã qua
như một cái chớp lửa. Chỉ còn một mình đồng chí Địch, trung 1, nằm chết bên trong rào. Anh
quay ra gọi người vượt thang sau anh : "Phố! Phố!". Không thấy trả lời. Một tiếng thân người bị
kéo sền sệt trên mặt đất xa dần. Lộp cộp lách cách ba con ngựa lù lù mon men lại gần, cúi
xuống hít ngửi anh đội viên. Ba bóng giặc mập mờ nhô ra khỏi một bức tường. "Ệch!" quả lựu
đạn ở trong tay Địch vung ra không nổ. Giặc biến mất. Địch nằm chết năm phút, mười phút
nữa, rồi vội vã trèo trở ra. Một cái thang vẫn còn mắc lên rào.
Gió thổi lộng, lành lạnh. Cây lá xào xào. Mưa lộp bộp những hạt nặng.
Gốc cây gạo, anh đại đội trưởng đã trở về ngồi, thở dốc. Cả chính trị viên, đại đội phó.
Không ai nỡ nói lên một câu gì cả, cùng nghe mưa rơi. Những giọt mưa dập nốt những ngọn lửa
còn cháy leo lét trên hàng rào đồn địch. Cái đồn vẫn cao lù xù, đen sì giữa trời.
Bộ đội đã nằm lăn lóc, sau cái gốc cây, rúc vào các bụi rậm. Những tiếng ngáy đều đều. Một
trung đội tập hợp, nhẫn nại, bước đi tẻ ngắt theo lệnh tiểu đoàn vòng lên núi, để qua sân tàu
bay, đi tìm một hướng khác tấn công. Nhưng ánh trăng gần sáng đã lờ mờ. Một tiếng gà rừng
gáy bên kia sông.
Anh tiểu đoàn trưởng đã thức suốt một đêm, bên một chiếc máy điện thoại, dưới chân núi
chỉ huy, từ từ đi trở lên vị trí. Bước chân của anh đã mỏi, chậm chạp lên dốc. Miệng anh mím
chặt. Mắt mở không chớp, không nhìn ai, không nhìn một cái gì. Hai má lõm. Da mặt đen sạm
càng sắt lại. Trên đôi mắt lạnh như còn vương những hình ảnh lửa cháy, người chạy liên lạc
như máy, đứng dừng lại thẳng người báo cáo Duỗi chân trong hố công sự, anh khẽ nhắm mắt.
Liên lạc, trinh sát... Chung quanh ngồi im thin thít cả.
Năm giờ sáng. Quan sát trên một ngọn cây nheo nhéo :
- Báo cáo, sương đang tan dần.
- Báo cáo, nhìn rõ được đồn rồi!
Anh tiểu đoàn trưởng đã quỳ xuống trong hố công sự. Từng thớ thịt của anh rung lên dưới
lần áo. Nhưng giọng vẫn dịu :
- Điện thoại! Pháo binh xong chưa? Kèn đâu?
Tiếng kèn tắc tị trong cổ họng anh thông hiệu. Anh tiểu đoàn trưởng giằng lấy kèn, lấy hết
hơi thổi rúc :
- Te... te... te... te.
Tiếng reo trên khắp các ngọn núi. Lô cốt số 1 vừa phi ra một đám khói trắng. Cái mái lật
ngửa bụng.
- Thấy xung kích chưa? Tiểu đoàn trưởng thét. Vẫn chỉ có sương tan trắng xóa xuống quanh
đồn.
- Đây rồi, lố nhố kia rồi!
Một anh run rẩy : "Này, rụng này... rụng!".
Nhưng không. Một người thứ hai, thứ ba vượt thang, vụt qua như mọc cánh. Cổng đồn tung
ra. Trung 4 ùa vào. Một cái lưng cởi trần trắng hếu, như từ dưới mặt đất hiện lên sau một mỏm
đá, vùng chạy. Hậu lăn xả vào chân khẩu moóc-chi-ê giữa sân. Khải xông vào lô cốt số 1. Một
thằng cởi trần nữa chết ngồi, dựa lưng vào tường như ngồi ghế bành, nhe răng cười, một chân
xích liền vào khẩu đui xết. Nhà số 9, vải bạt, quần áo cháy dở còn treo dưới mái, rủ xuống đầu
một tổ cúi lom khom chui vào. Tắc... bọp, viên đạn sướt qua mang tai hai người, nóng gáy.
Loáng một cái, địch đã rút ra sau nhà số 5, cái nhà to nhất ở chỗ cao nhất giữa đồn, đã cháy hết
chỉ còn cái nền và bốn bức tường gạch. Một dãy các bì muối xếp bên ngoài tường như một cái
chướng ngại vật. Hai bên nách nhà số 5, những cái núi đồ hộp, những đống gạch, tre gỗ, gióng
sắt... nhấp nhô phức tạp thành mấy từng chiến lũy, ngăn giữa ta và địch. Một tổ bò lên nền nhà
số 5. Vừa vặn một cái mặt Tây đen và một cái mặt khố đỏ răng vàng nhô lên sau bức tường.
Cùng trong tiếng nổ lựu đạn, tiếng hai thằng đổ rầm sau tường.
- Nhìn lên mà tránh! Trung đội phó Khải hô liền sau một tiếng "oách" và một băng si-ten
tắc tắc trên đầu. Mấy chục con người nằm rạp xuống, đè lên tất cả các đống than củi còn nóng,
các vũng máu, các đống giẻ rách, ống bơ, mảnh đạn, mảnh bom, phân ngựa... và ngóc đầu lên
nhìn. Mờ mờ một luồng khói nhạt quay tít, bốc vọt lên trời, rồi bổ nhào xuống, càng xuống
càng bị hút nhanh xuống đất như gió, tiếng rít như xé lụa. Bụi đất đỏ bốc mùi phủ kín mọi
người. Tiếng rên hừ hừ nổi lên dưới đất. Đồng chí Lư xông ra khỏi đám khói bụi, khẩu đui xết
trên vai, chạy như bay xuống đường. Khải thét : “Tiến sát cả vào!”, và nhặt khẩu súng dưới đất
lắp một quả A.T. tì súng vào vai đứng bắn. Một tiếng "pách" mé bên kia đồn trả lời. Khải vứt
súng xuống đất bên cạnh đống A.T. lùi xuống một hốc đá. Các đội viên tán loạn. Những anh
nhanh nhất trườn lên như rắn, đè cả lên bốn năm cái xác bạn còn nóng. Ba bốn người vần
quanh một tảng đá, mệt lả. Một đội viên đứng lên bờ tường hô : “Yêu cầu cho tiếp... vi...ệ... n...!” .
Một quả moóc-chi-ê rơi ngay xuống đầu, Khải lồng lên vơ lấy súng, lấy A.T. Người anh thành
một cái máy không biết mệt, không biết sợ, đứng lên, nằm xuống theo cái nhịp dồn dập của
moóc-chi-ê địch, bắn 87 độ như vậy, cứ nửa phút một quả. Khói bụi, đất đỏ chưa tan hết đám
này, lại bốc lên một đám khác, mù mịt, tối tăm mặt mũi. Ba bốn anh trên nền nhà số 5, bên
trong tầm nã của moóc-chi-ê, không sợ nguy hiểm nữa, nằm ỳ. Một tiếng đồng hồ, rồi hai tiếng
đồng hồ, moóc-chi-ê địch không một phút nào ngừng. Xung kích không ai còn nghe thấy tiếng
nó nổ nữa, mà vẫn biết nó bắn. Dịch sang trái, né sang phải, quẩn quanh những tảng đá. Tránh,
nấp, tiến, lùi đã ăn khớp, bình tĩnh, không tốn sức quá nữa, không bị hy sinh thêm một người
nào. Trung đội phó Khải, một mình vừa bắn xong phát A.T. thứ năm mươi bảy. Một trung đội
tiếp viện vừa vào đồn; ba người không biết hướng nào mà tránh kịp.
Trung đội trưởng Hoa rút ra khỏi đồn, xuống báo cáo, theo sau năm, bảy đội viên, người bị
thương, người mệt lả, ngồi phệt xuống quanh anh đại đội trưởng. Trung đội trưởng Hoa đứng
nghiêm báo cáo. Nhưng giọng anh run và mỗi lời anh nói lại làm anh xúc động thêm. Chỉ một
phút nữa là anh đứng nghiêm mà khóc trước mặt đại đội trưởng.
Rồi đến lượt trung đội phó Khải cũng xuống nốt. Lưỡi anh, và hai vai áo anh vàng khè thuốc
súng. Theo sau Khải lại một số đội viên nữa tới ngồi đông thêm bên anh đại đội trưởng, súng
đạn vứt một bên, thắt lưng lựu đạn cởi cả ra mà thở. Một vài cái băng trắng vừa buộc lên mấy
cái đầu nhỏ máu ròng ròng xuống cổ.
Dân quân tải thương, áo chàm khăn Tày vố lũ lượt khiêng cáng chạy lên hớt hải, ào ào, gãy
cây gãy cối như cuộc săn lợn rừng.
Rồi những chiếc cáng đỏ lòm chở về. Những tiếng rên khẽ, những nét mặt ngửa lên trời
nhăn nhó của người thương binh không muốn kêu. Đồng chí Thạo, không súng, không đạn,
nằm im trên cáng, một ống chân gãy rời ra để bên cạnh.
Địch không bị dồn nữa, bắn cầm chừng ra cổng đồn.
Ba giờ trận nội chiến đã qua.
Tiếng tàu bay xa xa trong mây mù. Địch bắn vội lên trời mấy loạt súng. Máy bay không
nghe, lảng xa.
Trên núi, trợ chiến vẫn đang ngồi không yên với khẩu moóc-chi-ê. Hàng trăm con mắt vẫn
thôi miên xuống những đống gạch, đá, tre, gỗ nhấp nhô, hàng rào ống bơ lấp lánh, không một
bóng giặc, một tăm hơi súng ống gì cả, im phăng phắc.
- Đấy đấy, nó ở cái đống bụi chuối đấy thì phải? Cục cục... cục Tằng... tằng...
- Khói kia như khói nó thổi cơm ấy anh ạ?
- Bố nó cũng không thổi cơm được bây giờ?
Khẩu la-mi ở đồi pháo binh bên kia sông vẫn rình một cái chấm đen đụng đậy, một cái đầu
giặc mấy lần định thò ra, mò một cái đồ hộp, bên phải nhà số 5. Tạt... tạt... tạt... Cái chấm đen
thụt vào.
- A ha! Chúng mày đừng có hòng ra mà mò ăn, mò uống gì cả!
Để cho chúng nó tuyệt vọng hơn, từng tổ bám sát trận địa đã chiếm không cho nó tỏa ra, lại
đã đốt tất cả những cái gì nó có thể đốt được chung quanh địch. Lửa lại đỏ rực bừng bừng.
Trong khi đó, từ gốc cây gạo của đại đội trưởng P.N tới chân ngọn núi của Ban chỉ huy chiến
trường đã biến thành ra một cái thứ sân trường học lúc giờ chơi. Cách đồn trăm thước, quây
quần chung quanh đại đội trưởng, xung kích ngồi nằm la liệt trên cỏ, trên những đống bao tải,
vải bạt rách, hòm gỗ vỡ, giấy má thư từ của ngụy binh, ống bơ, đồ hộp cháy chưa thu dọn, bên
cạnh súng ống, dây lưng ngổn ngang, chuyện rào rào như một cái chợ con. Chuyện trước còn
sôi nổi đánh nhau, đêm qua, sáng nay, Tây, khố đỏ, rồi chuyện chuyển sang bộ răng đen của
đồng chí Hội, cái bụng hắc lào của đồng chí Ninh. Một bọn bàn cãi gay go về cái vấn đề chưa
được giải quyết trong đại đội : châu chấu cào cào thì con nào bằng đầu con nào nhọn đầu.
Cứ độ nửa giờ, quan sát viên cũng đứng ngay cạnh đấy lại hô : "Moóc-chi-ê!" Nhưng nó cũng
lại vẫn bắn ra cổng đồn thôi. Chắc lại có anh đá phải ống bơ, đồ hộp gì ở trên ấy. Mọi người vẫn
nằm, ngồi quay lưng vào đồn địch, dựa trên các mô đất. Một anh vùng đứng dậy, chỉ cái đám
bụi khói đỏ lơ lửng, đang tan dần trên đồn dọa.
- Bắt được thằng bắn moóc-chi-ê thì phải đem ra tùng xẻo !... Rồi lại ngồi xuống. Nhưng
trong bụi bên cạnh, hai ba anh vẫn châu đầu với nhau, chia sẻ miếng súc cù là.
Chưa ai đến lúc có công việc gì cả. Những câu chuyện ồn ào, theo với sự mỏi mệt, hạ thấp
giọng, rì rầm tâm sự, tay đôi, tay ba, mấy anh trung đội trưởng, hai ba y tá, từng tốp nhỏ đội
viên liên lạc.
- Nay, mình ấy à, cái hồi mình ở P.T...
- Đánh cái trận này thế mà cũng gay đấy nhỉ...
- Bây giờ tôi bảo cứ đứng cả lên, cả trên núi nữa vỗ tay đều một lượt, địch cũng hốt lắm đấy
nhớ.
Đồng chí Hội bỗng vươn vai đứng dậy ngáp và gọi một đồng chí ở trung đội 1:
- Này, ra tớ bảo!
Hai người kéo nhau ra chỗ đường cái vắng thì thầm. Đồng chí ở trung đội 1 gật gật rồi nói to
: "Ờ, để tớ lấy quả lựu đạn đã nhớ, lựu Mỹ vừa tước được.". Một phút sau, hai người hàng dọc
tiến lên đồn, men hàng rào, rồi biến mất vào trong. Rồi một lúc, sắt tây ống bơ loảng xoảng và
một quả moóc-chi-ê nổ xuống giữa đồn. Khói chưa tan, đã thấy đồng chí Hội, đồng chí trung 1
theo nhau chạy thốc xuống đường, mỗi người kéo sền sệt dưới đất một con dê kêu be... bê...
rầm làng nước...
Gần 4 giờ chiều, đại đội phó N. thảo luận xong ở trên t...
 






Các ý kiến mới nhất